
Tôi nhận được email sau đây của ông Nguyễn Tiến Đạt, một giáo dân Công Giáo La-mã, thuộc gia đình "đạo dòng" nghĩa là nhiều đời theo đạo Công Giáo, và là cựu thẩm phán trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Thế nên, đừng ai cho rằng ông không biết gì về Công Giáo hay là ông không có học thức. Tôi muốn đăng tải lá thư này của ông như là lời làm chứng của một người trong cuộc về những sai trái trong tín lý của Giáo Hội Công Giáo La-mã. Tôi nhận thấy ông Đạt đã nhìn thấy được nhiều điều sai trái của Giáo Hội Công Giáo La-mã nhưng vì ông vẫn còn bị linh "Đức Mẹ" cai trị cho nên chính bản thân ông cũng chưa được nhìn thấy lẽ thật của Thánh Kinh. Ông đã viết nhiều bài "Tiếng Loa Cảnh Báo" để giải thích sách Khải Huyền nhưng hoàn toàn giải kinh sai lạc vì không có Đức Thánh Linh dẫn ông vào mọi lẽ thật. Tôi xin các bạn cầu nguyện để ông sớm được thức tỉnh, ra khỏi cơ mê ám của linh "Đức Mẹ," đầu phục Chúa và lời của Ngài là Thánh Kinh một cách hoàn toàn thì ông sẽ trở nên một công cụ đắc lực trong bàn tay Thiên Chúa để giải độc cho hàng triệu người Công Giáo Việt Nam. truth only. Tiếng Loa Cảnh Báo - Điện Thư Số 16 (tháng 11/2009) Giáo Hoàng bịt miệng Đức Chúa Trời - Đây: bằng chứng Tóm lược Chương I. Bằng chứng những trường hợp Giáo Hoàng hiểu sai Kinh Thánh 1.Băng chứng thứ I . . . . . . 1 2. Bằng chứng thứ 2 và thứ 3 . . . 2 Chương II. Bằng chứng Giáo Hoàng cố tinh nói nghịch lời Chúa trong Kinh Thánh 1.Bằng chứng 1: Tội ăn cướp Nhà Đức Chuá Trời . . . .3 2.Băng chứng 2:”Không có Lửa Hoả Ngục” . . . 5 3. Bằng chứng 3: “Không một ai có thể sa Hoả Ngục” . . . 6 4.Bằng chứng 4: Người So Thái chẳng có lỗi gì . . . 8 5. Bằng chứng 5: Do Thái vẫn còn là Dân Riêng của Chúa . . .8 6. Bằng chứng 6: Phải kính trọng giới dâm ô đồng tính . . . 9 Chương III.Bằng chứng Giáo Hoàng bịt miệng Thiên Chúa . . . 10 1. Che giấu vụng về: giấu đầu lòi đuôi . . . . 12 2.Bí Mật Fatima III: Giáo Hoàng mất Đức Tin và bỏ Đạo . . .13 3.Fatima tiên báo Trận Thế Chiến Nguyên Tử . . . 14 4. Bịt miệng Đức Mẹ là bịt miệng Thiên Chúa . . . 15 Chương IV. Giáo Hoàng Chủ trương Lừa Bịp: đây bằng chứng . . . 15 1. Lừa bịp hàng trăm ngàn Linh Mục và Giám Mục . . . 15 2. Lừa bịp hàng tỷ giáo dân . . . 16 * Giáo điều “Ngày Tận Thế”: Giáo Hoàng thành kẻ Đại Bịp . . .16 3. Lừa bịp hàng tỷ tín đồ Hồi Giáo . . . . 17 4. Lừa bịp hàng tỷ người Việt và người Tàu . . 17 Chương V.Giáo Hoàng không biết định luật phải theo để đọc Kinh Thánh.. . . 17 1.Định luật “Chỗ này một ít chỗ kia một ít” . . . 18 2.Sấm ngôn của Chúa Giê-su tiên báo Trận Thế Chiến Nguyên Tử . . . 20 3.Đại Dịch Cúm Heo: tiếng còi báo động. . . 20 4.Sự tàn phá sẽ vô cùng khủng khiếp . . . 21 Chương VI. TỔNG KẾT: Bịt miệng Chồng, bóp cổ Vợ cho chết . . . 22 * Lời kêu gọi khẩn thiết . . . .22 Chương I. Những trường hợp Giáo Hoàng hiểu sai Kinh Thánh Đây là những bằng chứng rành rành trên giấy trắng mực đen, không ai có thể chối cãi được. Tôi chỉ xin nói rất vắn tắt. 1. Bằng chứng trường hợp thứ I: Tại Fatima, ngày 13/5/2000, trong bài diễn văn được truyền hình và truyền thanh đi khắp thề giới cho hàng trăm triệu người nghe, Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã trưng dẫn Sấm Kinh Thánh như sau: "Theo kế hoạch của Thiên Chúa, "một người Phụ Nữ mặc áo mặt trời" (Khải Huyền chương 12 câu 1) đã từ trời xuống trái đất này để thăm viếng những người con được đặc ân của Đức Chúa Cha" . . . Theo Giáo Hoàng, người phụ nữ nói ở Chương 12 Sách Khải Huyền là Đức Mẹ Maria là Đấng đã từ trời hiện xuống Fatima. Đây là một sự hiểu sai Kinh Thánh, một sự sai lầm tỏ tường. Ai cũng biết rằng Khải Huyền là một Sách Tiên Tri. Vậy thì có nhà tiên tri nào ngớ ngẩn đến nỗi đi "nói tiên tri" để tiên báo một biến cố lịch sử đã xảy ra từ lâu năm trước không? Ai cũng biết là KHÔNG. Vậy thì tại sao Giáo Hoàng lại gán cho Thánh Gio-an làm một điều ngớ ngẩn là "nói tiên tri việc Đức Mẹ sanh con là Chúa Hài Đồng”? Vì trong câu 2 cũng Chương 12 Thánh Gio-an viết: "Bà đang mang thai và đau đớn quằn quại khi sanh con". Khi Thánh Gio-an viết câu này thì sự kiện Đức Mẹ sanh Chúa Hài Đồng đã xảy ra gần một thế kỷ trước đó rồi. Thêm một lý do thứ hai cho thấy Giáo Hoàng hiểu sai là nỗi đau đớn khi sanh con là hình phạt Thiên Chúa tuyên phạt bà E-và sau khi bà phạm tội ăn trái cấm (Khởi Nguyên chương 3 câu 16). Giáo Hội vốn tuyên xưng Đức Mẹ là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, vậy thì tại sao Giáo Hoàng lại bắt Đức Mẹ phải "quằn quại đau đớn khi sanh con"? Giáo Hoàng đã nói nghịch lời Chúa trong Kinh Thánh, vì đã hiểu sai Kinh Thánh. 2. Trường hợp thứ hai và thứ ba Giáo Hoàng hiểu sai Kinh Thánh Bốn năm sau, vào hồi 10giờ 30 sáng ngày 26/5/2004, Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã đọc một bài diễn văn bằng tiếng Ý mà hãng thống tấn Công Giáo Ý là Zenit đã dịch sang tiếng Anh, trong đó lại một lần nữa, Giáo Hoàng lại gọi Người Phụ Nữ ở Chương 12 Sách Khài Huyền là Đấng đã sanh ra Chúa Cứu Thế. Giáo Hoàng cũng trưng dẫn Sách Khải Huyền và gọi Con Rồng Đỏ là “Sa-tăng đã bị đánh bại” (Khải Huyền 12:11). Đó là thêm một bằng chứng Giáo Hoàng hiểu sai Kinh Thánh nữa. Đúc kết cả hai bài diễn văn năm 2000 và năm 2004 vừa kể, chúng ta thấy rằng Giáo Hoàng đã không hiểu hoặc hiểu sai bài sấm của Thánh Gio-an trong Chương 12 Sách Khải Huyền. Chủ đề của bài sấm này nói về thời ký toàn thắng của Con Rồng Đỏ tức Đế Quốc Cộng Sản. Người Phụ Nữ trong bài sấm này tượng trưng cho Giáo Hội Công Giáo. Triều thiên trên đầu người Phụ Nữ có 12 ngôi sao nói lên ý nghĩa “Tông Truyền” vì là Giáo Hội do 12 Thánh Tông Đồ truyền lại. Thời kỳ Con Rồng Đỏ toàn thắng và bá chủ thế giới chính là thời kỳ Giáo Hội đích thực của Chúa Giê-su phải “trốn vào sa-mạc trong 3 năm rưỡi” (Khải Huyền 12:14). Con số này có nghĩa là “một thời gian ngắn” vì là “một nửa của 7 năm” (là một thời gian dài). Vì không nắm vững những nguyên tắc căn bản trong việc giải thích Kinh Thánh như tôi sẽ trình bày sau đây, cho nên Giáo Hoàng đã không hiểu được ý nghĩa của Chương 12 Sách Khải Huyền nên mới đưa ra những lời giải thích sai lầm tỏ tường như thế. Chương II. Bằng chứng Giáo Hoàng cố tình nói nghịch lời Chúa trong Kinh Thánh Có những trường hợp Kinh Thánh nói “Có” thì Giáo Hoàng nói “Không”. Kinh Thánh nói “Điều dó Xấu” thi Giáo Hoàng nói “Điều đó tốt”.Những trường hợp Giáo Hoàng cố tình nói nghịch lời Chúa như thế thì rất nhiều, và tất cả đều nhằm vào một mục đích duy nhất là lôi kéo linh hồn của cả nhân loại xuống Hoả Ngục. Bằng những giáo điều cực kỳ hiểm độc, phải gọi là cực kỳ - cực kỳ hiểm độc như tôi sẽ trình bày liền sau đây, các Giáo Hoàng đã biểu lộ manh tâm ác độc của mình là nhằm giết hại các linh hồn, nhưng vì sợ Điện Thư quá dài, tôi chỉ xin trưng dẫn một số những điều quan trọng như sau: 1. Bằng chứng thứ nhất:Tội ăn cướp Nhà Đức Chúa Trời Cũng trong bài diễn văn ngày 26/5/2004 kể trên, Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II còn nói đến một đề tài “ngoại Kinh Thánh”, đúng hơn phải gọi là “bóp méo Kinh Thánh”: đó là đề tài “Thiên Chúa Quang Lâm với tư cách Thẩm Phán”, nghĩa là “Thiên Chúa Quang Lâm để Phán Xét” loài người vào ngày tận thế. Giáo Hoàng nói rằng “đây là một ngày đầy Hy Vọng chứ không phải là ngày đáng sợ”. Trong Giáo Hội từ ngàn xưa, từ thời các Thánh Tông Đồ đến nay chưa hề có Giáo Hoàng nào hay một nhà thần học nào rao giảng điều này. Giáo Hội xưa nay chỉ rao giảng và trông đợi “Ngày Chúa Giê-su Tái Lâm’ (the Second Coming of Jesus) để “phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Ta nên nhớ: Ngày Chúa Giê-su Tái Lâm là Ngày Tận Thế. Chúa Giê-su đã nói rõ như thế (Mat-thêu 25:31-34). Chưa hề bao giờ có ai rao giảng về Ngày Thiên Chúa Quang Lâm với tư cách Thẩm Phán. Vậy thì bởi đâu mà Giáo Hoàng đưa ra giáo điều kỳ lạ và quái đản này? Tại sao Chúa Giê-su không Trở Lại mà phải để cho “Thiên Chúa Quang Lâm” với tư cách Thẩm Phán để phán xét loài người vào ngày tận thế? Truy nguyên tận gốc rễ, chúng ta thấy lai lịch của giáo điều này bắt nguồn từ Hiến Chế “Lumen Gentium” (tức Hiến Pháp Mới của Giáo Hội) và từ Tuyên Ngôn “Nostra Aetate” của Công Đồng Vatican II. Trong mục 16 của Hiến Chế và mục 3 của Tuyên Ngôn vừa kể, giới lãnh đạo Giáo Hội đã tung hô chúa của Hồi Giáo là Allah, gọi chúa này là “Thiên Chúa toàn năng và hằng hữu, là Dấng tạo dựng nên trời và đất”. Khi Công Đồng Vatican II đưa ra hai văn kiện quan trọng này (tháng 11/1964 và tháng 10/1965), Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II lúc đó mới chỉ là một Tổng Giám mục và là một Nghị Phụ trong Công Đồng. Nhưng 27 năm sau, trong ngôi vị lãnh đạo Giáo Hội, Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã ban hành Sách Giáo Lý Mới năm 1992. Nơi điều 841 Sách Giáo Lý này, Giáo Hoàng đã lại một lần nữa tung hô chúa Allah là “Đấng tạo dựng trời và đất”. Rồi Giáo Hoàng còn khoác cho Allah một tước vị vô cùng quan trọng khác nữa là “Thẩm Phán sẽ phán xét loài người vào ngày tận thế”. Với giáo điều này, Giáo Hoàng đã phạm hai trọng tội cực kỳ nặng nề như sau: 1). Tội Cướp công Sáng Tạo trời đất của Thiên Chúa Cha. Ai cũng biết rằng không thể có hai Đấng Tạo Hoá. Nếu đã tung hô Allah là ĐấngTạo Hoá thì đương nhiên phải phế bỏ Thiên Chúa Ba Ngôi của người Ki-tô-giáo. Còn tội nào nặng hơn tội này nữa không? Đồng hoá Thiên Chúa Ba Ngôi của Công Giáo với chúa Allah của Hồi Giáo là một sự đồng hoá cực kỳ ngu xuẩn và quỷ quyệt, một tội ác cực kỳ nặng nề. Ta đừng quên rằng Ma-hô-mét, kẻ vẽ ra chúa Allah khi lập ra Hồi Giáo, đã nhiều lần cảnh cáo các tín đồ rằng đừng lầm “Ba Chúa” của Công Giáo với “Một Chúa” của Hồi Giáo (xem Koran Chương IV câu 171, Chương V các câu 73-77,116 v.v.). Người ta không thèm nhìn nhận mình mà mình cứ ôm lấy chúa của người ta thì là một sự nhận vơ ngu xuẩn và lố bịch, đồng thời lại là một trọng tội phản nghịch chống lại Thiên Chúa y như trọng tội của Lucifer khi xưa vậy, một tội đã làm cho Lucifer thành Sa-tang và bị tống xuống Hoả Ngục. 2). Tội cướp công Cứu Chuộc nhân loại của Đức Chúa Con. Chúa Giê-su đã phán rằng vào ngày tận thế, chính Chúa sẽ từ trời xuống ngự trên đám mây và ngồi trên ngai vinh hiển của Chúa để phán xét muôn dân (Mat-thêu 25:31-33). Nay với giáo điều 841 Sách Giáo Lý, hai Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II và Benedict XVI đã nói nghịch lại lời Chúa Giê-su trong Kinh Thánh, đã đạp vào mặt Chúa, đã đá Chúa văng xuống khỏi ngai vinh hiển của Chúa để đặt tà thần Allah lên thay thế ngồi phán xét loài người. Allah chính là “Thiên Chúa quang lâm với tư cách thẩm phán” như Giáo Hoàng tuyên bố ngày 26/5/2004. Đây không phải chi là một sự nói nghịch mà còn là thái độ phản nghịch chống lại Thiên Chúa, một trọng tội y hệt trọng tội của Lucifer thuở xưa trên thiên đàng. So với hai tội ăn cướp vừa kể của hai Giáo Hoàng thì tội của Lucifer thuở xưa toan cướp ngôi Vua Thiên Đình còn nhẹ hơn bội phần. Nếu với một tội mà Lucifer đã trở thành Sa-tang, hai Giáo Hoàng của thời đại chúng ta đã phạm tới hai trọng tội thì trở thành cái gì? Chắc phải gọi là Sa-Tang x 2. 2. Bằng chứng thứ 2 nói nghịch lời Chúa: “Không có Lửa Hoả Ngục” Trong Kinh Thánh Cựu Ưóc cũng như Tân Ước Chúa đã phán biết bao lần rằng có Lửa Hoả Ngục (T.Vịnh 140:10; Isaia 66:24; Mat-thêu 3:12; 5:22; 10:28; 18:8-9; K.Huyền 19:20; 20:10; v.v.). Tại Fatima năm 1917, Đức Mẹ cho ba em nhỏ thấy Hoả Ngục là một biển lửa khủng khiếp. Đức Mẹ còn dạy các em đọc bài kinh “Lạy Chúa Giê-su xin tha tội cho chúng con, xin cứu chúng con khỏi lửa Hoả Ngục”.Bất chấp lời của Chúa trong Kinh Thánh cũng như lời của Đức Mẹ rõ ràng như thế, ngày 28/7/1999, Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã công khai tuyên bố trước hàng chục ngàn khách hành hương tại Công Trường Thánh Phê-rô rằng “Chẳng làm gì có Lửa Hoả Ngục”. Giáo Hoàng đã lặp lại điều 1033 Sách Giáo Lý năm 1992 là điều định nghĩa “Hoả Ngục chỉ là một tình trạng ly khai khỏi mối hiệp thông với Thiên Chúa trên trời”. Nếu có Lửa thì Lửa phải cháy ở một nơi nào đó. Làm sao Lửa có thể cháy ở trong một “tình trạng” được? Ta nên nhớ rằng Giáo Hoàng không nói rằng “Không có Hoả Ngục”. Nhưng Giáo Hoàng nói rằng ”Hoả Ngục chẳng phải là một nơi hay một chỗ mà chỉ là một tình trạng vắng bóng Thiên Chúa”. Chính vì thế, Giáo Hoàng đã viết nơi các điều 631-637 Sách Giáo Lý rằng Chúa Giê-su sau khi chết rồi cũng đã xuống Hoả Ngục 3 ngày, ngụ ý khuyên nhân loại rằng chẳng ai nên sợ Hoả Ngục vì ở trong Hoả Ngục ai cũng có thể sống thoải mái như thường, chỉ “thiếu mối hiệp thông với Thiên Chúa” mà thôi. Thế thì có gì mà phải sợ Hoả Ngục? Sống ở trên trần gian này, có khi sống cả trăm tuổi hay hơn nữa, biết bao triệu người sống “không có sự hiệp thông với Thiên Chúa” mà vẫn có thể sống hạnh phúc, sống sung sướng như thường, mà có làm sao đâu. Chẳng được sung sướng như ở thiên đàng, nhưng “không hề bị lửa thiêu đốt” như lời Chúa Giê-su nói trong Kinh Thánh, thế là được rồi. Tóm lại giáo điều 1033 Sách Giáo Lý cũng như lời tuyên bố ngày 28/7/1999 của Giáo Hoàng là những bằng chứng cho ta thấy rằng Giáo Hoàng đã nói nghịch với lời Chúa trong Kinh Thánh. Nói như Giáo Hoàng thì có khác gì nói với Đức Mẹ rằng “Bà xạo vừa vừa thôi. Bà chỉ biết hù con nít, chứ thực ra chẳng làm gì có Lửa Hoả Ngục”. Sự nói nghịch lời Chúa và Đức Mẹ như thế tạo thành một giáo điều hiển nhiên của quỷ Sa-tang, có thể làm cho biết bao linh hồn sa Hoả Ngục. Còn tội nào nặng hơn tội này của hai Giáo Hoàng thời đại chúng ta nữa không? 3. Bằng chứng thứ 3 Giáo Hoàng nói nghịch lời Chúa: “không một ai có thể sa Hoả Ngục”. Chúa Giê-su đã phán rằng chỉ một thiểu số người trong nhân loại biết chịu khó “chọn cửa hẹp để vào nước Thiên Đàng” còn đa số đi theo cửa rộng để xuống Hoả Ngục” (Mat-thêu 7:13-14). Hai Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II và Benedict XVI đã rao giảng nghịch lại lời Chúa. Bằng nhiều luận cứ khác nhau, giáo điều “không một ai có thể sa Hoả Ngục” đã được hai Giáo Hoàng trình bày một cách rất công phu, tỉ mỉ, có mạch lạc trong một hệ thống những giáo điều được các nhà bình luận quốc tế gọi là chủ thuyết “Universal Salvation” (“Cứu Rỗi Toàn Diện”), nói nôm na là chủ thuyết “không một ai có thể sa Hoả Ngục”, cho dù có một kẻ điên khùng nào đó cứ nhất quyết đòi xuống Hoả Ngục cho bằng được. Nếu phải trình bày trọn bộ những giáo điều trong chủ thuyết vô cùng quỷ quyệt này, tôi sợ rằng điện thư sẽ quá dài. Bởi thế tôi chỉ xin phép nói sơ lược vài giáo điều chính trong chủ thuyết này như sau: 1). Giáo điều “Chúa Giê-su đã hiệp nhất vĩnh viễn với mọi người” Nơi mục 13 của Thông Điệp “Đấng Cứu Chuộc Nhân Thế” (ĐCCNT) ban hành ngày 4/3/1979, Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã viết rằng “Chúa Giê-su khi nhập thể làm người trần thế, bằng một cách nào đó, đã hiệp nhất với từng người” (ĐCCNT tr.30). “Và sự hiệp nhất đó có tính cách vĩnh viễn, nghĩa là không bao giờ tan rã” (ĐCCNT tr.31). “Vì có sự hiệp nhất vĩnh viễn như thế nên mọi người không trừ một ai đều đã được cứu rỗi, bất kể là người ấy có biết đến sự hiệp nhất đó hay không, có chấp nhận sự hiệp nhất đó hay không” (ĐCCNT tr.33). Nói như Giáo Hoàng thì không một ai có thể sa Hoả Ngục được cho dù có kẻ nào đó muốn xuống Hoả Ngục cũng chẳng xuống được vì Chúa Giê-su đâu có để cho nó lôi Chúa xuống đó. 2). Giáo điều “mọi người đều đã được Thiên Chúa tiền định cho lên Thiên Đàng”. Giáo điều này được hai Giáo Hoàng qui định trong điều 1703 Sách Giáo Lý năm 1992 như sau: “Dès sa conception, la personne humaine est destinée à la béatitude éternelle” (“Từ lúc được thụ thai trong lòng mẹ, con người đã được tiền định cho hưởng phúc đời đời”). Câu này Sách Giáo Lý tiếng Việt đã dịch sai: “Ngay từ lúc được thụ thai, con người đã được dành cho hiển phúc vĩnh cửu”. Chắc hẳn vị Linh Mục dịch giả bộ Sách Giáo Lý (một LM đã lớn tuổi và am tường Giáo Lý cổ truyền từ ngàn xưa) đã không “chịu nổi” những cải cách của Vatican, nên đã cố tình dịch sai. Ai cũng biết rằng “destinée” có nghĩa là “đã được tiền định”, khác hẳn ý nghĩa “đã được dành cho”. Bản tiếng Anh đã dịch chính xác khi viết “destined for eternal beatitude”. Trường hợp dịch sai này cũng tương tự như trường hợp bản tiếng Việt dịch sai các điều 631-637 nói về giáo điều “Chúa Giê-su sau khi chết cũng đã xuống Hoả Ngục 3 ngày” đã được Linh Mục Việt Nam dịch là “Chúa Giê-su xuống Ngục Tổ Tông 3 ngày”. Ta nên nhớ rằng vào năm 1992 khi Sách Giáo Lý được ban hành là ban hành bản văn tiếng Pháp. Sau đó vào năm 1994 các bản tiếng La-tinh, tiếng Ý, tiếng Anh, tiếng Việt v.v. mới được Toà Thánh cho ban hành. Trong nguyên bản tiếng Pháp nơi điều 631, Sách Giáo Lý viết rằng “Le Christ est descendu aux enfers”. Bản tiếng Anh đã dịch chính xác là “Christ descended into Hell”. Bản tiếng Việt dịch sai là “Chúa Ki-tô xuống Ngục Tổ Tông”. Chắc hẳn Linh Mục dịch giả cũng đã không thể nào chịu nổi giáo điều quái đản của Vatican nên đã cố tình dịch sai như thế, bởi vì ai cũng biết “Enfers” hoặc “Hell” là Hoả Ngục, và “limbes” (tiếng Pháp” và “limbo”(tiếng Anh) mới là Ngục Tổ Tông. Trở lại giáo điều “ngay từ lúc được thụ thai trong lòng mẹ, mọi người đều đã được Thiên Chúa tiền định cho hưởng phúc thiên đàng”. Nghĩa là không một ai có thể sa Hoả Ngục, bởi lẽ không một ai có khả năng thoát khỏi “thiên mệnh”. Trời đã định thì loài người không có cách gì trốn tránh được. Đây là một giáo điều vô cùng quỷ quyệt, có khả năng giết hại biết bao linh hồn. Ở địa vị Giáo Hoàng thì chỉ cần rao giảng một giáo điều này mà thôi cũng đủ để được lãnh án “đáy Hoả Ngục”. 3). Giáo điều “Thiên Chúa toàn năng đã muốn cứu mọi người thì thế nào Chúa cũng cứu được”. Cũng nằm trong chủ thuyết “Universal Salvation” của Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, điều 1058 Sách Giáo Lý viết “Nếu quả thực là không ai có thể cứu rỗi được chính mình, thì cũng quả thực Thiên Chúa muốn mọi người được cứu rỗi (I Tim.2:4). Mà đối với Thiên Chúa thì điều gì Chúa muốn Chúa cũng có thể làm được (Mat-thêu 19:26). Thật là rõ ràng: Thiên Chúa muốn cứu rỗi mọi người, mà Thiên Chúa là Đấng toàn năng, muốn làm gì thì thế nào cũng làm được. Bởi lẽ nếu không làm được điều mình muốn làm thì sao gọi được là “toàn năng”? Lấy hai câu Kinh Thánh ở hai nơi khác nhau là hai chân lý đem ráp lại với nhau để làm ra giáo điều này, một giáo điều tự nó nói lên lai lịch Sa-tăng của nó, vì nó quá quỷ quyệt đến nỗi chỉ có những tay sai của quỷ mới dám mở miệng rao giảng một giáo điều như thế này. Ta đừng để tay sai của quỷ đánh lừa ta bởi vì mặc dầu Thiên Chúa toàn năng và Thiên Chúa muốn cứu rỗi mọi người, nhưng ta đừng quên rằng Thiên Chúa cũng là Đấng toàn thiện toàn mỹ. Nghĩa là Thiên Chúa rất công minh chính trực, biết thưởng kẻ có công và biết phạt kẻ có tội. Kẻ có tội đáng sa Hoả Ngục mà không ăn năn thống hối thì dù Thiên Chúa toàn năng muốn cứu cũng chẳng có thể cứu được, vì dù là toàn năng Chúa cũng không thể làm một điều vô lý. 4. Bằng chứng thứ 4: Người Do-thái khi xưa chẳng có lỗi gi khi đóng đanh Chúa Giê-su Giáo điều này nằm trong các điều 574-598 Sách Giáo Lý năm 1992 của hai Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II và Benedict XVI. Với lời lẽ quanh co khó hiểu tóm lược như sau: Khi người Do-thái nghe thấy Chúa Giê-su nói với người bất toại rằng “Tha tội cho con” thì họ có lý do chính đáng để thốt lên rằng “Chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội”. Và nói như Chúa Giê-su là nói lời phạm thánh, một trọng tội đáng lãnh án tử hình theo hình luật trong xứ. Hai Giáo Hoàng cho rằng người Do-thái đã có lý do chính đáng để “hiểu lầm” mà kết án Chúa vì họ đâu có biết Chúa Giê-su là Thiên Chúa. Lý luận quanh co của hai Giáo Hoàng chỉ là lý do nguỵ tạo để chạy tội cho người Do-thái. Nếu đọc Kinh Thánh cho nghiêm chỉnh, hai Giáo Hoàng phải biết rằng lý do khiến cho người Do-thái quyết định giết Chúa Giê-su chẳng phải vì câu Chúa nói với người bất toại “Tha tội cho con” mà vì phép lạ vĩ đại Chúa làm khi làm cho ông La-gia-rô chết 4 ngày được sống lại (Gio-an 11:1-57; 12:1-11). Theo thánh Gio-an, sau khi được tin Chúa làm phép lạ này, bọn Linh Mục cầm quyền ở Do-thái triệu tập một phiên họp khẩn cấp và quyết định “phải giết thằng cha này cho bằng được, nếu không toàn dân sẽ đi theo nó hết”. Tóm lại, lý do nguỵ tạo do hai Giáo Hoàng bịa đặt ra để gỡ tội cho người Do-thái chỉ là lý do của những kẻ đui mù, vì liền sau khi Chúa phán với người bất toại “Tha tội cho con”, Chúa bảo hắn “Hãy chỗi dậy vác chõng mà về nhà” (Matt.9:6). Lập tức người bất toại đứng vụt dậy rồi vác chõng đi về nhà. Chỉ bằng một lời nói suông, không thuốc men gì mà Chúa chữa lành bệnh. Chỉ những kẻ đui mù mới không thấy quyền năng Thiên Chúa nơi con người của Chúa Giê-su. 5. Bằng chứng thứ 5:”Phải coi dân Do Thái vẫn còn là Dân Riêng của Thiên Chúa” Vì cho rằng người Do-Thái khi xưa có lý do chính đáng để đóng đinh Chúa Giê-su, nên hai Giáo Hoàng đã dạy giáo dân hoàn vũ phải coi dân Do Thái vẫn còn là Dân Riêng của Thiên Chúa và không được coi như là Dân đã bị Thiên Chúa nguyền rủa và giục bỏ. Đó là giáo lý ở các điều 597 và 839 Sách Giáo Lý. Hiển nhiên rằng hai Giáo Hoàng đã nói nghịch lời Chúa trong Kinh Thánh cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Bài Sấm Cựu Ước nằm ở Sách Isaia chương 22 các câu 15-25 là bài sấm cần được bổ túc bởi Khải Huyền chương 3 câu 7 thì mới có thể hiểu được rằng Do-thái-giáo sẽ bị Thiên Chúa giục bỏ như giục bỏ một đồ phế thải vì nó sẽ trở nên “mối nhục cho Nhà của Chúa” (Is.22:18). Bước sang Tân Ước, ta thấy Chúa Giê-su nói rõ hơn trong dụ ngôn về bọn tá điền Vườn Nho (Mat-thêu 21:33-46). Sau khi giết Con Một của Chủ Vườn, bọn này sẽ bị đuổi khỏi Vườn Nho. Và Chúa phán “Đạo Chúa sẽ được lấy đem đi khỏi các ngươi” (Mat-thêu 21:43). Thánh Mat-thêu tường thuật rằng khi người Do-thái nghe Chúa phán như thế thì hiểu rằng Chúa ám chỉ bọn chúng. Vậy mà ngày nay hai Giáo Hoàng của Vatican vì tối trí nên không hiểu và cho rằng Do-thái-giáo vẫn còn là “Đạo Thiên Chúa”, và Dân Do-thái vẫn còn là Dân Riêng của Chúa. 6). Bằng chứng thứ 6: “Phải kính trọng kẻ dâm ô đồng tính” Giáo điều quái đản này nằm trong các điều 2357-2359 Sách Giáo Lý tóm lược như sau: “Một số lớn những kẻ trong giới đồng tính luyến ái không phải do họ tự lựa chọn cho mình khuynh hướng này mà là do bản tính tự nhiên trời sinh họ ra như vậy. Từ bẩm sinh họ đã được thánh ý Chúa an bài như thế. Bởi thế, họ phải được đón nhận với sự kính trọng, sự thông cảm và sự tế nhị”. Hai Giáo Hoàng đã nói nghịch với lời Chúa trong Kinh Thánh. Chúa coi tội dâm ô đồng tính là một trọng tội, “một tội ghê tởm phải bị trừng trị bằng cách ném đá cho chết” (Lê-vi chương 18 câu 22 và chương 20 câu 13). Cái gương trừng phạt là dân hai thành Sô-đô-ma và Gô-mô-ra bị lửa từ trời mưa xuống đốt chết hết vì Chúa gọi tội dâm ô đồng tính là một trọng tội “aggravatum est nimis” (“quá đỗi nặng nề”). Vậy mà nay hai Giáo Hoàng bắt giáo dân phải kính trọng bọn người mà Chúa lên án thì có khác gì tát vào mặt Chúa? Hiển nhiên hai Giáo Hoàng đã trở thành tay sai của Sa-tăng để rao giảng một giáo điều của quỷ. Chương III. Bằng chứng trọng tội của Giáo Hoàng “bịt miệng Đức Chúa Trời” Xưa nay chưa hề có ai lên tiếng tố cáo loại trọng tội này. Đây là một trọng tội của giới “chúa chiên” bao gồm mọi cấp lãnh đạo dân Chúa (Giáo Hoàng, Giám Mục,Linh Mục, Mục Sư) là những giới chức có nghĩa vụ rao giảng lời của Chúa đến tai các tín đồ. Vi phạm nghĩa vụ này chính là một hình thức Bịt Miệng Đức Chúa Trời theo như tội danh đã được chính thiên Chúa xác định qua sấm ngôn của tiên tri Ê-giê-ki-en như sau đây. 1. Chính Thiên Chúa xác định tội danh Qua lời của tiên tri Ê-giê-ki-en, chính Thiên Chúa đã ban sứ điệp tiên tri tóm lược như sau: “Hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm người lính canh cho nhà của dân Ta, khi nào ngươi nghe từ miệng Ta phán ra lời cảnh báo thì ngươi phải thông báo cho dân của Ta để cho kẻ tội lỗi biết mà ăn năn thống hối. Nếu ngươi không thông báo, ngươi sẽ mắc nợ máu về cái chết của kẻ tội lỗi, ngươi sẽ bị coi là kẻ đồng lõa sát nhân” (Ê-giê-ki-en chương 3 :17-21). “Hỡi con người, nếu dân của Ta có lựa chọn ngươi làm người lính canh cho nhà của dân Ta, thì khi ngươi thấy một trận chiến tranh sắp xảy đến cho vùng đất của dân Ta thì ngươi phải thổi loa báo động. Nếu không thổi loa cảnh báo, ngươi sẽ mắc nợ máu đối với những người trong dân của Ta chết trong trận chiến đó, và ngươi sẽ bị coi là kẻ đồng loã sát nhân” (Ê-giê-ki-en 33:2-9). Đây bằng chứng Giáo Hoàng cố tình bịt miệng Đức Chúa Trời Nhân loại hiện đang đứng trước nguy cơ một trận Thế Chiến Nguyên Tử vô cùng khủng khiếp, đó là trận Thế Chiến III. Gần ba ngàn năm trước, Thiên Chúa đã tiên báo trận chiến này trong bài sấm của tiên tri Ê-giê-ki-en về ba trận chiến thời thế mạt. Bài sấm quan trọng này nằm trong Chương 21 Sách Ê-giê-ki-en, một bài sấm rất khó hiểu, bởi lẽ nếu chỉ đọc một bản văn Kinh Thánh, chúng ta khó lòng mà có thể hiểu được Thiên Chúa muốn nói gì. Đây là một trường hợp điển hình để áp dụng định luật căn bản phải tuân theo để có thể giải thích Kinh Thánh, đó là định luật “thâu lượm chỗ này một ít chỗ kia một ít rồi đem ráp nối lại với nhau” là định luật do chính Thiên Chúa ban hành như tôi sẽ trình bày chi tiết trong Chương V sau đây. Trở lại bài sấm ở Chương 21 sách Ê-giê-ki-en. Sau khi kiểm đìểm và đức kết từ nhiều bản văn Kinh Thánh khác nhau, tôi đã thâu lượm được những điều sau đây: 1).Vào thời thế mạt, vì dân theo Đạo Chúa trở nên rất tội lỗi nên Chúa sẽ dùng ba trận chiến tranh để trừng phạt (Ê-giê-ki-en 21: 14, 24-25, 29). 2). Trận Thế Chiến I sẽ chỉ mới là trận đánh thử để dân Chúa hiểu thế nào là một trận chiến tranh trừng trị (Ê-giê-ki-en 21:13). 3). Trận Thế Chiến II sẽ là một trận đánh “dằn mặt” vì dân Chúa đã tỏ ra khinh thường cái roi của cơn thịnh nộ của Chúa (Ê-giê-ki-en 21:14). 4). Thiên Chúa phán “Vì dân của Ta tiếp tục tỏ ra khinh thường Cái Roi của Con Trai của Ta, nên sẽ có trận Thế Chiến III (Ê-giê-ki-en 21:10). 5). Trận Thế Chiến III sẽ là một cuộc Đại Tàn Sát vô cùng khủng khiếp: Cái Gươm tàn sát sẽ vung tứ tung, kẻ tội lỗi cũng người công chính đều sẽ bị tàn sát; mọi người đều rụng rời tay chân, sợ quá đến nỗi đái ra quần (Ê-giê-ki-en 21:3-4,7,15). Bằng chứng Đức Mẹ Fatima bị Giáo Hoàng “bịt miệng” Hành vi “Bịt miệng Đức Chúa Trời” trong vụ Bí Mật Fatima III là một hành vi công khai, lộ liễu trắng trợn của các Giáo Hoàng Gio-an XXIII, Gio-an Phao-lô II và Benedict XVI. Tôi đã trinh bày chi tiết về vụ này trong Tiếng Loa Cảnh Báo Số 14 (1), ở đây tôi chỉ xin phép nhắc lại sơ lược. Khi trao bản văn Bí Mật III cho Vatican vào ngày 16/4/1957, chị Lucia đã nói rõ là Đức Mẹ ra lệnh cho Giáo Hoàng phải công bố Bí Mật này cho cả nhân loại biết khi chị Lucia chết hoặc trễ lắm là năm 1960. Ta nên nhớ chi tiết quan trọng này, một chi tiết cả thế giới đều biết và còn nhớ. Giáo Hoàng Gio-an XXIII đã tỏ ra khinh thường mệnh lệnh của Đức Mẹ và không chịu công bố. Vào ngày 8/2/1960 Vatican đưa ra một Thông Cáo không có viên chức nào ký tên để đưa ra 3 lý do khiến cho Vatican quyết định không công bố. Lý do thứ nhất là “vì chị Lucia còn sống”. Lý do này hiển nhiên là ngớ ngẩn, vô nghĩa lý và kém văn hoá. Lý do thứ hai là “vì Vatican đã biết nội dung của Bí Mật”. Lý do này cũng hiển nhiên là ngớ ngẩn và vô nghĩa lý. Lý do thứ ba là “vì Vatican không tin rằng chị Lucia đã nói sự thật, không tin những lời mà chị Lucia thuật lại đích thực là lời của Đức Mẹ đã nói”. Lý do này của Vatican hiển nhiên nhằm gieo sự nghi ngờ vào toàn bộ Sứ Điệp Fatima và như thế là một thái độ hỗn xược đối với Đức Mẹ vì Vatican cho rằng Đức Mẹ đã không biết lựa chọn người đáng tin cẩn để chuyển giao Sứ Điệp của Thiên Đình cho nhân loại. Tuy nhiên trong lý do thứ ba này ta ghi nhận được một điều quan trọng và ta cần ghi nhớ: đó là Bí Mật Fatima III “có chứa đụng những lời nói của Đức Mẹ”. Vatican công bố: Giấu đầu lòi đuôi Sau 40 năm cố tinh bưng bít và bịt miệng Đức Mẹ, ngày 26/6/2000, Vatican đã chính thức công bố Bản Văn Bí Mật Fatima III. Đọc lời công bố của Hồng Y Ratzinger (nay là Giáo Hoàng Benedict XVI) chúng ta thấy ngay là Bản Văn giả mạo. Sự nguỵ tạo quá lộ liễu, quá vụng về đến nỗi một đứa con nít cũng nhận ra ngay là gỉả mạo. Không cần xét đến nội dung, chỉ cần nhìn hình thức ta cũng nhận ra ngay là giả mạo, “prima facie” là nguỵ tạo. Bởi vì Bản văn không thấy chứa đựng một lời nói nào của Đức Mẹ mà chỉ gồm những lời tường thuật của chị Lucia mô tả về một linh kiến có nội dung tiên báo vụ Giáo Hoàng bị mưu sát tại Công Trường Thánh Phê-rô ngày 13/5/1981. Vì Vatican chủ tâm bưng bít, cố tình bịt miệng Đức Mẹ, nên chúng ta phải lần mò tìm cho ra sự thật. Và nhờ sự giấu đầu lòi đuôi của Vatican, do sự “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” của các giới lãnh đạo khác nhau trong Vatican, tôi đã thâu lượm được những điều quan trọng sau đây chứa đựng trong Bi Mật Fatima Thứ Ba. 1). Giáo Hoàng mất Đức Tin và bỏ Đạo Hồng Y Mario Luigi Ciappi (1909-1996) một trong những quan đại thần của Triều Đình Vatican “Curia Romana” sau khi được đọc Bí Mật Fatima III đã tuyên bố như sau: “Bí Mật Fatima Thứ Ba tiên báo nhiều điều trong đó có lời tiên báo về sự bỏ đạo tập thể sẽ xảy ra trong Giáo Hội, bắt đầu là sự bỏ đạo của kẻ ở địa vị cao cấp nhất” (2). Chính vì có lời tiên báo này mà làm cho không một Giáo Hoàng nào dám mở miệng ra để công bố Bí Mật Thứ Ba. Bởi lẽ nếu công bố là tự mình thú nhận mình đã mất Đức Tin và đã bỏ Đạo. Và nếu thú nhận như vậy rồi thì đâu còn có tư cách gì để tiếp tục ngồi trên ngai vàng được nữa. Bởi vậy, vì không muốn phải cỡi bỏ áo mão rồi trốn chạy khỏi ngai vàng Vatican nên không một Giáo Hoàng nào dám mở miệng công bố Bí Mật Fatima III. Nhìn lại thực trạng Giáo Hội. chúng ta thấy rằng lời tiên báo này của Đức Mẹ hiển nhiên đã ứng nghiệm. Đọc các giáo điều tôi trình bày trên đây, chúng ta thấy rằng hai Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II và Benedict XVI đã mất Đức Tin và đã bỏ Đạo. Bởi lẽ một tín đồ Công Giáo đâu có tôn thờ Allah của Hồi Giáo! 2). Nguy cơ đe doạ sinh mạng của cả nhân loại Một nhân vật quan trọng khác đã được đọc Bí Mật Fatima III rồi hé mở cho một người ngoài, đó là Hồng Y Joseph Ratzinger (hiện nay là Giáo Hoàng Benedict XVI). Ngày 15/8/1984 Hồng Y Ratzinger đã dành cho một ký giả người Ý tên là Vittorio Messori một cuộc phỏng vấn, trong đó Messori có hỏi về nội dung Bí Mật Fatima Thứ Ba thì được Hồng Y cho biết rằng Bí mật này tiên báo hai điều quan trọng sau dây; 1) một mối nguy cơ đe doạ Đức tin Công giáo; 2) một mối nguy cơ đe doạ sinh mạng của nhân dân cả thế giới. Đem đối chiếu sự tiết lộ của Hồng Y Ratzinger với sự tiết lộ của Hồng Y Mario Luigi Ciappi trên kia, chúng ta thấy cả hai đều nói đến một điều giống nhau, đó là cuộc khủng hoảng Đức Tin Công Giáo. Tuy nhiên, Hồng Y Ciappi đã nói rõ hơn rằng sự mất Đức Tin sẽ xảy ra ngay tại địa vị cao cấp nhất trong Giáo Hội. Nghĩa là chính Giáo Hoàng sẽ là kẻ mất Đức Tin và bỏ Đạo. Đề tài “Vatican mất Đức Tin” đã được tôi trình bày chi tiết trong các Điện Thư trước nhất là Điện Thư Số 14 và 15 trước đây. Trong Điện Thư này, tôi đang trình bày về sự “Bịt Miệng Đức Chúa Trời” của các Giáo Hoàng liên quan đến biến cố quan trọng nhất, khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, đó là biến cố được Đức Mẹ mô tả trong Bí Mật Fatima III là “phần lớn dân số thế giới sẽ bị tiêu diệt”. Đó chính là điều mà Hồng Y Ratzinger hiện nay là Giáo Hoàng Benedict XVI đã nói với ký giả Vittorio Messori ngày 15/8/1984 về “mối nguy cơ đe dọa sinh mạng của nhân dân cả thế giới” như tôi đã dẫn chứng nơi Chương 2 trong Điện Thư Số 14. Tiên báo trận Thế Chiến Nguyên Tử Ai cũng hiểu và biết rằng khi Đức Mẹ tiên báo “một mối nguy cơ đe dọa sinh mạng của nhân dân cả thế giới” là Đức Mẹ có ý tiên báo một Trận Thế Chiến Nguyên Tử. Sấm ngôn của Chúa Giê-su về Trận Đại Chiến khủng khiếp này nằm rải rác ở nhiều nơi nhất là trong Chương 24 Mat-thêu và Chương 17 Lu-ca trong đó có câu 37 là câu đem toàn bộ sấm ngôn của Chúa về Trận Đại Chiến này nhập chung vào hai Chương 38 và 39 Sách tiên tri Ê-giê-ki-en. Theo tiên tri này, đây là Trận Chiến sẽ do nước Nga phát động để tấn công Hoa Kỳ vào thời thế mạt (Êgiêk.38:8,16). Cũng theo tiên tri Ê-giê-ki-en, sau trận chiến, người ta sẽ phải mất 7 tháng trời mới chôn hết xác chết (Êgiêk.39:12). Nghĩa là trận chiến sẽ vô cùng khủng khiếp. Sau đây tôi sẽ nói thêm về trận chiến này. Bịt miệng Đức Mẹ là bịt miệng Đức Chúa Trời Thiên Chúa sai Đức Mẹ hiện xuống Fatima để loan báo Cuộc Đại Trừng Phạt trong đó “phần lớn dân số thế giới sẽ bị tiêu diệt”. Đức Mẹ ra lệnh cho các Giáo Hoàng phải công bố lời cảnh báo này “trễ lắm là vào năm 1960”. Nhưng các Giáo Hoàng đã cương quyết bịt miệng Đức Mẹ, cương quyết không chuyển đạt lời cảnh báo của Thiên Đình tới tai nhân loại. Chỉ vì lý do là lời cảnh báo nằm trong Bí Mật Fatima III, trong đó Đức Mẹ cũng có tiên báo sự mất Đức Tin và bỏ đạo của kẻ ở địa vị cao cấp nhất trong Giáo Hội, làm cho không một Giáo Hoàng nào dám mở miệng công bố. Rõ ràng là chỉ vì tham quyền cố vị nên các Giáo Hoàng Gio-an XXIII, Phao-lô VI, Gio-an Phao-lô II và Benedict XVI đã bấp chấp “mối nguy cơ đe dọa sinh mạng của cả nhân loại”, không lên tiếng rao giảng lời cảnh báo của Thiên Chúa. Sinh mạng của hàng tỷ người bị Thiên Chúa đe dọa cũng mặc kệ, “sống chết mặc bay”. Thái độ đó thực là gian ác. Gian ác đến độ thành kẻ sát nhân, vì Chúa đã phán như thế. Giáo Hoàng thành kẻ sát nhân, giết hàng tỷ người Như tôi đã trình bày trên đây, chính Thiên Chúa đã phán qua miệng tiên tri Ê-giê-ki-en rằng một chúa chiên đứng trên tháp canh có nghĩa vụ phải thổi loa cảnh báo khi thấy một trận chiến tranh đang sắp xảy đến trên vùng đất của dân Chúa. Nếu không thổi loa cảnh báo, chúa chiên sẽ bị coi là kẻ đồng lõa sát nhân giết hại người dân trong thành (Êgiêk.3:17-21;33:1-9). Theo lời Chúa Giê-su, chỉ có “phép lạ Gio-na” mới có thể cứu nhân loại hiện nay khỏi bị trừng phạt bằng một Trận Đòn Tắm Máu (Mat-thêu 12:39). Trong tình trạng hiện nay (tháng 11/ 2009), nếu một Trận Thế Chiến Nguyên Tử bùng nổ, sẽ có ít là 4 tỷ người thiệt mạng, đủ để chia cho 4 Giáo Hoàng, mỗi Giáo Hoàng phải chịu trách nhiệm giết 1 tỷ người. Trong lịch sử loài người, đã có ai giết nhiều người như thế bao giờ chưa? Lời cảnh báo đã được Đức Mẹ Fatima đưa ra với lệnh truyền cho Giáo Hoàng phải rao giảng như tiên tri Gio-na rao giảng cho dân thành Ni-ni-ve thuở xưa, nhưng vì sợ mất ghế mất ngai vàng nên không Giáo Hoàng nào lên tiếng rao giảng. Vậy thì cuộc Đại Trừng Phạt chắc chắn sẽ phải tới. Chương IV. Bằng chứng Giáo Hoàng chủ trương trường kỳ lừa bịp Đây không phải là những hành vi lừa bịp lẻ tẻ mà là một chủ trương trường kỳ lừa bịp, tận lực lừa bịp, không nhằm lừa một nhóm người mà là nhằm lừa cả nhân loại. Lừa bịp ở đây không nhằm mưu cầu tiền bạc hay lợi lộc trần thế. Mục đích tối hậu của chính sách trường kỳ lừa bịp của hai Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II và Benedict XVI là nhằm lôi kéo linh hồn của cả nhân loại xuống Hoả Ngục. Nếu phải liệt kê tất cả các hành vi và chính sách lừa bịp của hai Giáo Hoàng này thì phải viết hàng trăm trang giấy cũng chưa đủ. Bởi thế, tôi chỉ xin gom lại sơ lược trong hai mục sau đây: 1) Những giáo điều nhằm lừa bịp; 2) Những lớp người nạn nhân bị các Giáo Hoàng lừa bịp. I. Những giáo điều lừa bịp của Giáo Hoàng Trên đây tôi đã trình bày khá chi tiết về một số giáo điều “hoàn toàn nói nghịch lời Chúa” của hai Giáo Hoàng. Ở đây tôi xin vắn tắt nhắc lại mấy giáo điều mà mục đích hiển nhiên là đẩy các linh hồn xuống Hoả Ngục: 1) Chúa Giê-su khi nhập thể làm người trần thế, bằng một cách nào đó đã hiệp nhất với mỗi người và mọi người và sự hiệp nhất là vĩnh viễn không bao giờ tan rã cho dù người đó có biết hay không biết và có chấp nhận hay không chấp nhận sự hiệp nhất với Chúa Giê-su; 2) Chẳng làm gì có Lửa Hoả Ngục; 3) Không một ai có thể sa Hoả Ngục, 4) Vì mọi người đều đã được Thiên Chúa tiền định cho lên Thiên Đàng, 5) Và vì Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng đã muốn cứu mọi người thì thế nào Chúa cũng có cách cứu, v.v. Xin quý vị đọc chầm chập và suy nghĩ về từng giáo điều vừa kể để thấy rõ tâm địa cực kỳ ác độc của hai Giáo Hoàng khi rao giảng những giáo điều quỷ quyệt, có tính cách ru ngủ và nặc mùi Sa-tăng như thế. II. Những lớp người nạn nhân bị Giáo Hoàng lừa bịp Kể sao cho xiết con số những nạn nhân bị hai Giáo Hoàng lừa bịp.Nhiều lắm. Nhiều vô số kể, nhưng tôi chỉ xin phép nói rất vắn tắt đến mấy lớp người sau đây: 1. Hàng trăm ngàn Linh Mục và Giám Mục bị lừa Trong Điện Thư Số 14 và Số 15 tôi đã chứng minh rõ ràng rằng các Linh Mục thuộc quy chế mới (chịu chức sau năm 1970) đều là Linh Mục giả vì khi thụ phong không được Giám Mục trao cho một năng quyền nào của chức Linh Mục như xưa. Họ không có quyền Làm Lễ. Họ không có quyền Giải Tội. Họ chỉ được trao cho một năng quyền nghe rất là “lạ tai” khi họ được phong Chức Phó Tế, đó là Năng Quyền “Đọc Sách Phúc Âm cho kẻ chết nghe”. Những ai không mất trí đều giật mình khi nghe Giám Mục nhân danh Giáo Hội chính thức trao cho mình năng quyền quái đản như thế. Trên thế giới hiện nay có chừng hơn 200 ngàn Linh Mục và hơn 30 ngàn “Thày Sáu Vĩnh Viễn” có năng quyền khùng điên này. Rồi từ hàng ngũ Linh Mục gỉả đó biết bao người đã trở thành Giám Mục và những Giám Mục giả này đã truyền chức cho biết bao Linh Mục khác. Tất cả đều là giả. Nhưng trong số các Giám Mục và Linh Mục giả đó có được bao nhiêu người ý thức được chức vị giả của mình? Tôi có một người bạn ở San Jose một hôm nhân chuyến về thăm quê hương bên Việt Nam có ghé thăm Linh Mục chánh sở xứ đạo. Khi được biết ông này từ San Jose về thăm quê nhà, Linh Mục hỏi: “Ở San Jose ông có biết ông luật sư Trương Tìến Đạt không? Ông bạn tôi trả lời có biết. Linh Mục bèn thẩy cho ông một bản phô-tô-co-pi một số báo Tiếng Loa Cảnh Báo do tôi phát hành từ San Jose. Trong số báo này tôi có viết một bài tỉ mỉ về hàng ngũ Linh Mục giả chịu chức từ sau năm 1970. Linh Mục buồn rầu nói với ông bạn tôi rằng: “Ông Đạt nói đúng. Tôi nhìn nhận tôi là một Linh Mục Giả. Chúng tôi bị đánh lừa. Khi dâng mình cho Chúa, chúng tôi đâu có muốn làm Linh Mục giả. Nhưng biết làm sao bây giờ!”. Thật là tội nghiệp! Ngoài một số chắc là ít người thấy rõ mình là Linh Mục giả, đa số còn lại thì cứ tỉnh bơ, cứ ung dung, cứ mặc kệ. Họ cứ Làm Lễ, cứ ngồi Toà Giải Tội mặc dù không có năng quyền. Nhất là khi họ Làm Lễ có được trả tiền “xin lễ”: tiền giáo dân trả là tiền thật, nhưng Lễ họ làm là của giả, của vô hiệu lực. Một chuỗi những sự lừa gạt mà kẻ chủ chốt lừa bịp là chính Giáo Hoàng. Ta đừng quên vụ Hồng Y Francis Arinze trong ngôi vị Tổng Trưởng Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích ngày 25/3/2004 vừa qua đã ký tên ban hành Huấn Thị “Bí Tích Cứu Độ” trong đó ngài đã quả quyết rằng Thánh Lễ theo nghi thức mới (áp dụng từ năm 1969) là vô hiệu lực (Chương II điều 42 BTCĐ). Và đây không phải là lần đầu có người nói cho Giáo Hoàng biết rằng Thành Lễ “Novus Ordo” (“theo Nghi Thức Mới”) là vô hiệu lực (nghĩa là “vô ích”). Hồi năm 1969, trước khi Giáo Hoàng Phao-lô VI ban hành quy chế Thánh Lễ “Novus Ordo”, Hồng Y Alfredo Ottaviani với tư cách Bộ Trưởng Thánh Bộ Tín Lý (hồi đó gọi là Holy Office) cũng đã đích thân viết thơ cho Giáo Hoàng để cực lực phản đối quy chế Thánh Lễ Mới vì là Thánh Lễ vô hiệu lực. Nhưng Phao-lô VI đã bưng tai bịt mắt lại để khỏi nghe biết Lẽ Phải và cứ ký tên ban hành. Hơn ba chục năm sau, đến lượt Hồng Y Arinze cũng cho hai Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II và Benedict XVI biết như vậy. Biết rằng các Thánh Lễ trong các Nhà Thờ Công Giáo trên toàn thế giới là vô hiệu lực mà hai Giáo Hoàng này cứ tỉnh bơ, làm như không có chuyện gì xảy ra cho Giáo Hội. Thử hỏi hai Giáo Hoàng này còn lương tri hay không? Còn có Đức Tin Công Giáo hay không? Đúng như Hồng Y Giuseppe Siri đã chỉ thẳng vào mặt hai Giáo Hoàng này và nói “Chúng bay là những kẻ phản bội Giáo Hội, những kẻ đào mồ để chôn sống Giáo Hội” (3). 2. Hàng tỷ tín đồ Công Giáo bị Giáo Hoàng lừa bịp Các tín đồ Công Giáo bị các Giáo Hoàng lửa bịp triền miên và sâu xa trong mọi lãnh vực thuộc đời sống tôn giáo của mình. Câu chuyện này rất dài, nhưng tôi chỉ xin sơ lược nhắc đến vài lãnh lực sau đây: * Cung cấp cho giáo dân Thánh Lễ vô hiệu lực. Thánh Lễ đem lại ân sủng để nuôi sống linh hồn giáo dân. Nhưng khốn nạn thay! Tất cả các Thánh Lễ trong tất cả các nhà thờ Công Giáo La-mã đều là vô hiệu vì nhiều lý do. Lý do thứ nhất là vì các Linh Mục vô năng quyền như tôi vừa nói trên đây. Lý do thứ hai là vì nghi thức Thánh Lễ Mới “Novus Ordo” do Giáo Hoàng Phao-lô VI ban hành năm 1969 làm cho Thánh Lễ không còn là sự tái diễn cuộc Hy Tế trên Núi Sọ của Chúa Giê-su khi xưa mà chỉ còn là một bữa tiệc kỷ niệm cuộc tử nạn của Chúa. Vì thế, Thánh Lễ không mang lại ơn cứu độ như lời quả quyết của Hồng Y Francis Arinze tôi đã trình bày trên đây. Cung cấp Thánh Lễ vô hiệu là cung cấp đồ giả. Là lừa bịp. * Rao giảng cho giáo dân những giáo điều của quỷ Sa-tăng như tôi đã trình bày trên đây như giáo điều “không có Lửa Hoả Ngục”, giáo điều “không một ai có thể sa Hoả Ngục” v.v. Rao giảng nguỵ giáo điều là một hình thức lừa bịp. * Rao giảng Bí Mật Fatima III giả mạo. Tội giả mạo và tội lừa gạt mang cùng một bản tính bất lương. Giáo Hoàng đã không cho giáo dân nghe được Lời Chúa Cảnh Báo về cuộc Đại Trừng Phạt khủng khiếp sắp tới như trong Bí Mật Fatima III. Đây là vụ lừa bịp tai hại nhất, nặng nề nhất vì nó đe dọa sinh mạng của cả nhân loại. Chúa coi vụ lừa bịp này là như tội đồng loã sát nhân, giết hại hàng tỷ người. * Giáo điều “Ngày Tận Thế”: Giáo Hoàng thành kẻ Đại Bịp Đây là một vụ lừa bịp có một không hai trong lịch sử Giáo Hội và lịch sử loài người. Các tín đồ của Chúa Giê-su cả một đời giữ đạo, giữ các Giới Răn của Chúa, chỉ mong có NGÀY được Chúa đem về Thiên Đàng. Nhưng, than ôi! với giáo điều về Ngày Tận Thế do hai Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II và Benedict XVI rao giảng, chúng ta, những tín đồ của Chúa Giê-su sẽ chẳng bao giờ có được NGÀY đó. Theo điều 841 Sách Giáo Lý của hai Giáo Hoàng này, vào Ngày Tận Thế, chúa của Hồi Giáo là Allah sẽ ngồi trên ngai vinh hiển để phán xét loài người chứ không phải là Chúa Giê-su sẽ ngồi như lời Chúa phán trong Kinh Thánh (xin đọc Mat-thêu 25:31-46). Nếu Allah mà là quan toà ngồi phán xét loài người thì chắc chắn nó sẽ chỉ cho các tín đồ Hồi Giáo đứng bên hữu của nó rồi được nó cho lên Thiên Đàng hết. Còn các tín đồ của Chúa Giê-su sẽ phải đứng bên tả rồi bị nó tống xuống Hoả Ngục hết. Đó, âm mưu quỷ quyệt của hai Giáo Hoàng là như thế đó, là đẩy chúng ta xuống Hoả Ngục hết. 3. Hàng tỷ tín đồ Hồi Giáo bị Giáo Hoàng lừa bịp Trước khi bay lên trời, Chúa Giê-su đã phán với các môn đệ rằng “Chúng con hãy đi rao giảng Tin Mừng này cho mọi người; ai tin và chịu Phép Rửa Tội thì được cứu, ai không tin thì sẽ bị luận phạt” (Marcô 16:15-16). Nhưng hai Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II và Benedict XVI thì lại nói nghịch lời Chúa rằng:”Những ai công nhận có Tạo Hoá là đủ để được cứu rỗi, trước hết đó là những tín đồ Hồi Giáo” (điều 841 Sách Giáo Lý năm 1992 của hai Giáo Hoàng). Nghĩa là người Hồi Giáo không cần ơn cứu chuộc của Chúa Giê-su. Không cho các tín đồ Hồi Giáo được hưởng ơn cứu chuộc của Chúa Giê-su, hai Giáo Hoàng đã phạm một trọng tội vô cùng nặng nề là giết hại linh hồn của hàng tỷ người bằng sự lừa bịp. 4. Hàng tỷ người Tàu người Việt bị Giáo Hoàng lừa bịp Ai cũng biết rằng người Việt cũng như người Tàu đều tin có Tạo Hoá. “Ngẫm thay muôn sự tại Trời, Trời kia đã bắt làm người có thân, Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao” (Nguyễn Du, Truyện Kiều). Theo hai Giáo Hoàng, tin có Tạo Hoá như vậy là đủ để lên thiên đàng, khỏi cần ơn cứu chuộc của Chúa Giê-su (điều 841 Sách Giáo Lý). Hiển nhiên đó là một sự lừa bịp. Chương V. Giáo Hoàng không biết cách đọc Kinh Thánh Ai dám nghĩ hoặc dám nói rằng Giáo Hoàng không biết cách đọc Kinh Thánh? Nhưng như tôi đã dẫn chứng trên đây (trong Chương I và II), chúng ta thấy rõ rằng Giáo Hoàng vì không biết cách đọc Kinh Thánh nên đã hiểu sai Kinh Thánh, đã xuyên tạc Kinh Thánh để rao giảng biết bao giáo điều trái ngược với Kinh Thánh. Câu chuyện này rất dài, ở đây tôi chỉ xin phép thâu hẹp lại trong một đề tài : “Làm sao hiểu được ý Chúa trong Kinh Thánh”? Một hôm, nhân một buổi nói chuyện với một Linh Mục người Mỹ ở Sacramento chung quanh đề tài “tìm hiểu ý Chúa trong Thánh Kinh”, tôi có buột miệng nói “ngay Thánh Jerome cũng hiểu sai Kinh Thánh”. Ai cũng biết Thánh Jerome (Giê-ro-ni-mô) là dịch giả đã dịch trọn bộ Kinh Thánh sang tiếng La-tinh (bản Vulgata). Nghe tôi nói như thế, Linh Mục trợn mắt lên, sửng sốt hỏi tôi: “ông có phải là một ông thánh không?”. Tôi đáp “con đâu có phải là một ông thánh, nhưng xin cha cho con mượn cuốn Kinh Thánh tiếng La-tinh”. Ông đưa cho tôi cuốn Kinh Thánh La-tinh. Tôi mở Chương 13 sách Isaia và chỉ cho ông đọc câu 3 “Ego mandavi sanctificatis meis” (“Ta đã hạ lệnh cho đạo binh thánh của Ta”. Tôi nói “Thánh Jerome dịch câu này hiển nhiên là sai”. Linh Mục hỏi: “Sai là sai ở chỗ nào?”. Tôi đáp: “Xin cha đọc xuống dưới, đọc các câu 15-16 để thấy rằng đạo binh nói ở đây chính là đạo quân xứ Media sẽ tới để “cướp của giết người, hãm hiếp đàn bà, giết cả con nít”. Media là mật danh ám chỉ quân Cộng Sản Nga. Muốn tìm ra ý nghĩa của mật danh Media, ta phải đi một đọan đường khá dài. Tuy nhiên, không cần tìm hiểu quân Media là quân CS Nga, ta chỉ cần hiểu rằng một đạo binh đi cướp của giết người hãm hiếp đàn bà giết cả con nít thì không thể nào được gọi là “đạo binh thánh” củaThiên Chúa. Vì thế câu 3 Chưong 13 sách Isaia đúng ra phải được dịch là “Ta đã hạ lệnh cho đạo binh được Ta tuyển chọn” như trong bản Kinh Thánh của James Moffatt “I have charged my chosen host”. Quân Cộng Sản Nga hung ác bạo tàn nên được Thiên Chúa tuyển chọn để dùng làm chiếc roi sắt như tôi đã trình bày nhiều lần trong các Điện Thư trước. Định Luật căn bản phải theo để biết cách giải thích Kinh Thánh Tôi tin rằng có lẽ vì không được Chúa soi sáng cho biết hoặc không để tâm tìm hiểu đến nơi đến chốn nên các Giáo Hoàng đã không biết định luật mà tôi sẽ trình bày sau đây là định luật do chính Thiên Chúa ấn định. Không biết để tuân theo thì không ai có thể hiểu được các sứ điệp tiên tri của Chúa. Nhờ ơn Chúa soi sáng nên tôi đã tìm ra được định luật cần thiết này. Định luật “chỗ này một ít chỗ kia một ít” Tiên tri Isaia đã thuật lại lời Thiên Chúa phán ra định luật này trong Chương 28 các câu 1-13 tôi xin tóm lược như sau: “Chủ đề của Sấm Kinh Thánh nhằm nói về cuộc Đại Trừng Phạt của Thiên Chúa vào thời thế mạt. Chúa muốn tìm trong giới lãnh đạo dân Chúa mà không tìm được kẻ Chúa tin cậy để Chúa trao phó việc rao giảng các sứ điệp tiên tri của Chúa. Trong giới chúa chiên, Chúa chỉ gặp những kẻ rượu chè say sưa. Không lẽ Chúa lại chuyển đạt sấm ngôn của Chúa cho lũ con nít miệng còn hôi sữa? Bởi thế Chúa đành phải tuyên phán các sứ điệp tiên tri của Chúa bằng nhũng sấm ngôn huyền bí được cắt vụn ra thành từng mảnh nhỏ và được Chúa đem để rải rác chỗ này một ít chỗ kia một ít, để không ai đọc mà hiểu nổi” (Is.28:1-13). Đoạn Kinh Thánh vừa kể là một trong những đoạn văn khó hiểu nhất trong Kinh Thánh, nhưng lại là một đọan văn quan trọng nhất vì nó chứa đựng một định luật căn bản mà những ai muốn tìm hiểu ý Chúa trong Kinh Thánh cũng phải đọc và tuân giữ. Nói một cách khác cho dễ hiểu hơn: các sấm ngôn trong Kinh Thánh đều được Chúa ban ra trong những lời văn huyền bí khó hiểu, lại được Chúa xé vụn ra và đem để rải rác ở nhiều nơi khác nhau. Đó là định luật “chỗ này một ít chỗ kia một ít” (“a little here a little there”. Muốn hiểu được ý Chúa muốn nói gì, ta phải biết gom lại, ráp các đoạn văn lại với nhau, rồi lại phải tìm cách mở các mật ngữ chứa đựng trong đó. Bởi thế, thánh Jerome vì không biết định luật căn bản này nên đã dịch sai câu 3 Chương 13 sách Isaia như tôi vừa kể trên. Và Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II vì không biết định luật này nên đã hiều sai Chương 12 sách Khải Huyền như tôi đã trình bày trên đây trong Chương I của Điện Thư này. Không phải chỉ trong Cựu Ước Thiên Chúa mới áp dụng chính sách “nói để không ai hiểu” như thế. Trong Tân Ước, Chúa Giê-su cũng có khi áp dụng chính sách tương tự như thế khi Chúa giảng bằng dụ ngôn để cho một số người “nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu” (Lu-ca 8:10). Trở lại định luật “a little here a little there” kể trên, yôi xin trình bày vài thí dụ để làm sáng tỏ vấn đề định luật quan trọng này như sau: Thí dụ 1: Sách Tiên Tri Gióp Tôi là người đầu tiên tìm ra sách tiên tri này, một sách từ ngàn xưa vốn được liệt kê là Sách Khôn Ngoan, chưa hề được các Giáo Hội hoàn vũ liệt kê là Sách Tiên Tri. Sách Gióp mở đầu bằng câu “Ngày xưa ở xứ Uz có một người tên là Gióp”. “Xứ UZ” là một mật ngữ. Tôi phải đi một đoạn đường dài vượt qua các sách Thánh Vịnh, Cách Ngôn, Giảng Viên v.v. và qua các sách Tiên Tri Isaia, Giê-rê-mi-a, tới sách Ai-ca tôi mới tìm ra được ý nghĩa của mật danh “xứ UZ”. Theo Ai-ca Chương 4 câu 21, “xứ Uz” nằm trong vương quốc EDOM. Tới đây, tôi đụng phải một mật ngữ khác là EDOM. Tôi phải đi ngược lại vượt qua mấy chục sách tới sách đầu tiên là Khởi Nguyên đọc câu chuyện trong Chương 25 các câu 25-34 tôi mới thấy ý nghĩa của mật ngữ EDOM có nghĩa là ĐỎ. Với ý nghĩa này, toàn bộ sách Gióp mang chủ đề một sách tiên tri nói về đời sống khốn cực của người dân phải sống trong vùng Cộng Sản cai trị. Trong sách Gióp, ta có bài sấm đầy đủ nhất về cuộc Cách Mạng Vô Sản Chúa dùng để đưa những kẻ ở giai cấp cặn bã của xã hội lên ngai vàng (Gióp 30:1-31). Cũng trong sách Gióp, ta có bài sấm về sức mạnh khủng khiếp của Cộng Sản dưới mật danh Con Hải Long Lê-vi-a-than (Gióp 41:1-34). v.v. Thí dụ 2: Sấm ngôn tiên báo trận Nguyên Tử Thế Chiến III Trong toàn bộ Sấm Kinh Thánh, đây là bài sấm quan trọng hàng đầu, được Thiên Chúa nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu lần dưới nhiều hình thức khác nhau. Để làm thí dụ soi sáng cho định luật “a little here a little there” (“chỗ này một ít chỗ kia một ít”), tôi xin lấy bài sấm của Chúa Giê-su về trận chiến khủng khiếp này và tôi chỉ xin nói rất vắn tắt để Điện Thư khỏi quá dài. Sấm ngôn của Chúa Giê-su về Trận Nguyên Tử Thế Chiến III được Thiên Chúa xé vụn ra và được đặt nằm rải rác ở các câu 1-51 Chương 24 sách Mat-thêu, cộng thêm các câu 1-23 Chương 13 sách Marcô cộng thêm các câu 26-37 Chương 17 và trọn Chương 21 sách Lu-ca. Chính câu 37 Chương 17 sách Lu-ca đã đem trọn bộ các câu sấm của Chúa Giê-su nhập chung với hai Chương 38 và 39 sách tiên tri Ê-giê-ki-en. Hai Chương này là bài sấm Kinh Thánh đầy đủ nhất và rõ ràng nhất về Trận Nguyên Tử Thế Chiến III do Cộng Sản Nga phát động để tấn công Hoa Kỳ. Tiên tri Ê-giê-ki-en đã nêu đích danh quân đội nước Nga (tên cũ là Rosh) với nơi cư ngụ của chúng “ở miền cực Bắc chỗ tận cùng trái đất” (Êgiêk.38:2,6,15) sẽ là đạo binh mở cuộc tấn công Hoa Kỳ. Dân Hoa kỳ được mô tả rõ rệt là “dân tứ xứ tụ họp lại trên một vùng đất đã từng có thời kỳ là hoang vu muôn đời” (Êgiêk.38:8). Hàng trăm câu sấm trong các sách vừa kể cũng đủ cho ta thấy nhiều điều vô cùng quan trọng Thiên Chúa đã báo cho chúng ta biết trước về cuộc Đại Trừng Phạt của Chúa vào thới thế mạt này (Êgiêk.38:8,16).”Vô cùng khủng khiếp” có lẽ là những chữ đúng nhất để diễn tả trận chiến này. Bài sấm của Chúa Giê-su về Trận Thế Chiến Nguyên Tử rất dài nhưng tôi chỉ xin nhắc đến sơ lược trong mấy điểm sau đây: 1). Đại Dịch Cúm Heo: tiếng còi báo động Chúa Giê-su có nhắc đến một số sự kiện tiên báo Trận Nguyên Tử Thế Chiến III như “động đất nơi này nơi kia, chiến tranh nơi này nơi khác, nạn đói nơi này nơi kia, bệnh dịch ở nhiều nơi khác nhau” (Mat-thêu 24:7). Vào thời điểm hiện nay (tháng 11/2009), đa số các chính phủ trên thế giới đã có lệnh ban hành tình trạng khẩn trương để đối phó với nạn Đại Dịch Cúm Heo. Xin quý vị chú ý một chi tiết là chỉ một số bản Kinh Thánh có nói đến Bệnh Dịch, đa số thì không. Trong bản Kinh Thánh tiếng Việt của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam (bản dịch của LM Nguyễn Thế Thuấn), ta không đọc thấy “bệnh dịch”. Bản Kinh Thánh tiếng Việt của các Giáo Hội Tin Lành cũng không có. Trong bản Kinh Thánh La-tinh Vulgata thì thấy có “Pestilentiae” (“bệnh dịch”). Thêm một lần nữa điều này cho chúng ta thấy rằng không phải đọc hết cả cuốn Kinh Thánh mà chúng ta thấy được ý của Chúa, vì có cuốn thiếu điều này có cuốn thiếu điều kia, hoặc sai điều này hay điều khác như thí dụ bản Vulgata dịch sai câu 3 Chương 13 Sách Isaia tôi đã dẫn chứng trên đây. Vậy, theo lời Chúa Giê-su, “khi nào chúng con thấy những điều đó (động đất, nạn đói, bệnh dịch v.v.) thì chúng con nên biết rằng đó là “khởi đầu của thời kỳ đại thống khổ” mà tột đỉnh của thời kỳ này sẽ là trận đại chìến vô cùng khủng khiếp (Mat-thêu 24:8). Tóm lại, bệnh dịch Cúm Heo hiện nay là một Tiếng Còi Báo Động, là một Tiếng Loa Cảnh Báo Thiên Chúa nhắc cho chúng ta biết rằng cuộc Đại Trừng Phạt của Chúa đang tới gần. 2). Sự tàn phá sẽ vô cùng khủng khiếp Theo lời Chúa Giê-su tiên báo, chỉ nội trong đêm xảy ra Trận Đại Chiến, một nửa dân số thế giới sẽ bị thiệt mạng. Tôi xin mở một dấu ngoặc để nói về chi tiết “chỉ nội trong đễm hôm đó” (Lu-ca 17:34). Nếu chỉ đọc Tin Mừng Mat-thêu, ta sẽ không thấy được chi tìết quan trọng này. Biết bao người vì chỉ đọc Mat-thêu “ở đâu có hai người thì một người sẽ được lấy đem đi” (Mat-thêu 24:40-41) nên đã hiểu lầm và cho rằng “một nửa dân số thế giới (gồm người già và con nít) sẽ được “bốc lên trời cả hồn lẫn xác” (“raptured”) trước khi xảy ra cuộc Đại Trừng Phạt của Chúa. Nhưng nếu ta đọc thêm Lu-ca Chương 17 các câu 34-37 thì ta mới thấy không phải như vậy. Nhờ có câu hỏi của các môn đệ ở Lu-ca 17:37 “Thưa Thầy, lấy đem đi đâu” và câu trả lời của Chúa “Xác chết ở đâu diều hâu tụ lại đó”, ta mới hiểu được Chúa có ý nói rằng : “Nội trong đêm hôm đó, một nửa dân số thế giới sẽ bị giết”. Ở Mat-thêu (24:28) câu “Xác chết ở đâu diều hâu tụ lại đó” nằm lửng lơ giữa trời không ăn nhằm vào đâu nên không ai hiểu nổi. Còn ở Lu-ca chương 17, câu 37 “xác chết ở đâu diều hâu tụ lại đó” đã đem toàn bộ sấm ngôn của Chúa nhập chung với hai Chương 38 và 39 sách Ê-giê-ki-en như tôi đã nói trên đây. Tóm lại, vào đêm xảy ra trận Thế Chiến Nguyên Tử, một nửa dân số thế giới sẽ bị thiệt mạng. Sau đêm đó, chừng một phần tư dân số thế giới nữa sẽ chết vì phóng xạ, vì bệnh tật, vì đói rét lạnh buốt theo thuyết mùa đông nguyên tử (nuclear winter theory). Thuyết khoa học này cho rằng sau trận thế chiến nguyên tử, khói đen đặc và bụi mù sẽ bay lên cao bao phủ địa cầu trong nhiều tháng trời, làm cho ánh nắng mặt trời không chiếu xuống trái đất được nên sẽ làm cho bàu khí quyển trở nên cực kỳ lạnh giá. Cây cối hoa màu sẽ chết. Người và thú vật sẽ chết nếu không có sưởi ấm, vì nhiệt độ sẽ tụt xuống ít là 75 độ. Chính vì thế Chúa Giê-su đã khuyên: “Chúng con hãy cầu nguyện để ngày đó đừng xảy ra trong mùa đông” (Mat-thêu 24:20). Tóm lại, tổng kết số người bị giết trên thế giới sẽ là vào khoảng hơn 4 tỷ người. Các thành phố nhất là các thành phố lớn sẽ trở thành những nấm mồ chôn tập thể. Hàng triệu người sẽ bị chôn vùi dưới các đống gạch vụn vì chẳng có phương tiện moi các xác chết để đem đi chôn. Chính vì thế Chúa Giê-su khuyên “Ai ở trong thành phố thì hãy chạy ra khỏi thành phố; ai ở vùng đồng quê thì chớ có chạy vào thành phố” (Lu-ca 21:21). Muốn sống còn trong những ngày đó, chúng ta phải chuẩn bị cho một cuộc sống không có đèn điện, không có nước máy, không có chợ búa, không có ánh sáng mặt trời trong nhiều tháng trời. Có thể không có an ninh nữa. Chương VI. TỔNG KẾT: Bịt miệng Chồng, bóp cổ Vợ cho chết Vì thương đàn con của mình, Thiên Chúa sai Sứ Thần là Đức Maria hiện xuống Fatima dể chuyển đạt lời Cảnh Báo của Thiên Chúa về trận đòn trừng trị của Chúa sắp xảy ra trong đó “phần lớn dân số thế giới sẽ bị thiệt mạng”. Lời Cảnh Báo được Sơ Lucia viết ra trên một tờ giấy rồi trao cho Vatican với lời Đức Mẹ ra lệnh cho Giáo Hoàng phải công bố cho cả nhân loại biết lời cảnh báo đó trễ lắm là vào năm 1960. Nhưng Giáo Hoàng năm đó là Gio-an XXIII rồi sau đó là Phao-lô VI, rồi Gio-an Phao-lô II rối Benedict XVI tất cả đều cương quyết không công bố. Đó là hành vi bịt miệng Thiên Chúa để lời nói của Chúa không tới được tai nhân loại. Hành vi này có thể đem tới hậu quả là giết hại hàng tỷ người trong trận thế chiến nguyên tử sắp tới. Thánh Phao-lô gọi Chúa Giê-su là Chồng và Giáo Hội là Vợ (Êphêsô 5:23). Giáo Hội sống bằng ân sủng của Chúa qua Thánh Lễ là nguồn ơn cứu độ. Nay Hồng Y Francis Arinze đã quả quyết rằng Thánh Lễ vô hiệu lực, không mang lại ơn cứu độ. Nghĩa là không còn đồ ăn thức uống nữa, thế thì Giáo Hội phải chết đói chết khát. Biết rõ như vậy mà hai Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II và Benedict XVI không làm gì để cứu vớt Giáo Hội khỏi cơn đói và khát. Thế thì có khác gì bóp cổ xiết họng Giáo Hội cho chết. Ta đừng quên lời Hồng Y Giuseppe Siri gọi nhóm Nghị Phụ “Liên Minh Âu-Châu” (“European Alliance”) là “những kẻ phản bội Giáo Hội, những kẻ đào mồ để chôn sống Giáo Hội” (3). Trong nhóm Nghị Phụ này có Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II khi ấy còn là một Tổng Giám Mục và có Linh Mục Ratzinger (hiện nay là Giáo Hoàng Benedict XVI) khi ấy là Bí Thư Cố Vấn luôn luôn đi bên cạnh Hồng Y Joseph Frings. Chính Hồng Y này ngày 13/10/1962 đã phất cờ khởi nghĩa cướp Công Đồng để đưa Giáo Hội tới tình trạng tan rã như ta thấy ngày nay (4). Bởi thế, Giáo Hoàng Benedict XVI phải được coi là có công lớn với “Cách Mạng”. Lời kêu gọi khẩn thiết Ta không quên lời Chúa Giê-su phán “Này Ta ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mat-thêu 28:20). Nhưng ta cũng đừng quên lời Chúa kêu gọi mọi người hãy chạy khỏi cái Giáo Hội “Babylon” tội lỗi để khỏi bị phạt lây vì tội lỗi của Vatican đã chồng chất cao ngút trời xanh (Khải Huyền 18:4-5). Chúa Giê-su không còn ngự trị trong Vatican nữa, nhưng Chúa vẫn còn hiện diện trong hàng ngàn giáo đường nằm rải rác trên khắp thế giới là nơi có Thánh Lễ Truyền Thống (Thánh Lễ La-tinh) do các Linh Mục đích thực của Chúa cử hành. Muốn tìm nơi có Thánh Lễ La-tinh, xin quý vị vào website http://www.traditio.com. --- - - - - - - 1).Muốn đọc các Điện Thư Tiếng Loa Cảnh Báo từ Số 1 đến Số 14, xin vào website http://truongtiendat.atspace.com 2). Trích từ tác phẩm “The Devil’s Final Battle” của Linh Mục Paul Kramer, nhà xuất bản The Missionary Association, 7 High St., Terryville, Conn. 06786. Ở trang 34, tác giả đã trích dẫn lời Đức Hồng Y Mario Luigi Ciappi nói rằng: “In the third Secret it is foretold, among other things, that the great apostasy in the Church, will begin at the top” (“Bí Mật Fatima Thứ Ba tiên báo nhiều điều, trong đó có điều nói rằng sự bỏ đạo tập thể sẽ bắt đầu ở địa vị cao cấp nhất trong Giáo Hội”). Nghĩa là “Bí Mật Fatima III tiên báo Giáo Hoàng mất Đức Tin và bỏ Đạo”. 3). Theo Nguyệt San “30 Days” trong số báo tháng 6 năm 1989, xem các trang 71-74. 4). Nhóm Nghị Phụ “Liên Minh Âu Châu” do Hồng Y Joseph Frings lãnh đạo là nhóm đa số trong Công Đồng qui tụ hơn 2 ngàn Hồng Y, Tổng Giám Mục và Giám Mục trong tổng số gần 3 ngàn trên thế giới. Với đa số áp đảo, nhóm này hành động có kỷ luật rất chặt chẽ và đã thắng trong tất cả mọi cuộc biểu quyết với tranh luận gay go của Công Đồng. Phe thiểu số dưới sự lãnh đạo của Tổng Giám Mục Marcel Lefevre của Pháp chỉ có hơn 400 phiếu nên đành phải chịu thua. Sau Công Đồng, TGM Lefebvre cùng hàng trăm TGM và GM đã bỏ Giáo Hội Vatican để đi lập Giáo Hội “độc lập”, trong số này có TGM Ngô Đình Thục của Việt Nam. Xin đọc trong tác phẩm “The Rhine flows into the Tiber” nhất là đọc các trang 13-23 để thấy phe đa số đã áp dụng sách lược như Cộng Sản đế cướp đoạt và khống chế Công Đồng nhằm thay đổi Giáo Hội Công Giáo Truyền Thống thành Giáo Hội Nhân Dân. Tác phẩm vừa kể của Linh Mục Dòng Ngôi Lời Ralp M. Wiltgen nhà xuất bản TAN BOOKs, P.O.Box 424, Rockford, IL 61105.
|
|||
Xin nói rõ
Xin nói rõ là tôi không có ý cho rằng tất cả những điều ông Trương Tiến Đạt trình bày trong bài viết trên đây của ông là đúng. Ông nhìn thấy sự sai trái của Giáo Hội Công Giáo La-mã nhưng chính bản thân ông cũng có những sai lầm trong sự hiểu biết lời Chúa; lý do đơn giản là vì: một người chưa được tái sinh thì không thể nào hiểu được những sự sâu nhiệm trong lời Chúa. Một người chưa được tái sinh thì chỉ có thể hiểu được điều căn bản của lời Chúa là:
Có một Đức Chúa Trời. Mọi người đều phạm tội và sẽ bị hư mất đời đời trong hỏa ngục. Đức Chúa Trời yêu thương loài người nên ban cho loài người con đường cứu rỗi duy nhất qua sự chết và sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ. Loài người cần ăn năn tội, (nghĩa là hối tiếc vì đã phạm tội, quyết tâm từ bỏ tội) rồi tin nhận sự cứu rỗi Chúa ban, vâng theo lời Chúa dạy trong Kinh Thánh một cách tuyệt đối.
Chỉ khi nào một người tiếp nhận các lẽ thật cơ bản nêu trên của lời Chúa thì mới có thể hiểu biết được những điều sâu nhiệm trong lời Chúa. Ông Trương Tiến Đạt vẫn chưa khước từ tà thuyết về "Đức Mẹ" cho nên vẫn còn bị quyền lực của Satan khống chế và không thể hiểu đúng lời Chúa.
truth only